17 Tác phẩm chuyên thi vào lớp 10 môn Văn (Phần 14) mới nhất

CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI

(Vũ Khoan)

I – GỢI Ý

1. Tác giả:

Tác giả Vũ Khoan là nhà hoạt động chính trị, hiện là Phó Thủ tướng Chính phủ.

2. Vấn đề:

Người Việt Nam chúng ta có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đó là lòng yêu nước, là đức tính cần cù, dũng cảm, là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”. Đó là những phẩm chất không ai có thể phủ nhận bởi chúng đã được kiểm nghiệm và khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên, không ai có thể toàn vẹn, cùng với những phẩm chất cần luôn được phát huy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những mặt hạn chế cần sửa đổi. Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, đồng thời cũng nhận thức được những mặt còn yếu kém cần khắc phục là điều hết sức cần thiết để mỗi con người nói riêng và cộng đồng Việt Nam nói chung vươn lên tự hoàn thiện mình, không ngừng tiến bộ để đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử đất nước.

Bài viết đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam – đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới.

 

doc
5 trang
Người đăng
duyphuonghn
Ngày đăng
20/08/2021
Lượt xem
157Lượt tải
0
Download
Bạn đang xem tài liệu “Tác phẩm chuyên thi vào lớp 10 môn Văn (Phần 14)”, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TÁC PHẨM CHUYÊN THI VÀO LỚP 10
CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI
(Vũ Khoan)
I - GỢI Ý
1. Tác giả:
Tác giả Vũ Khoan là nhà hoạt động chính trị, hiện là Phó Thủ tướng Chính phủ.
2. Vấn đề:
Người Việt Nam chúng ta có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đó là lòng yêu nước, là đức tính cần cù, dũng cảm, là tinh thần "lá lành đùm lá rách", "thương người như thể thương thân"... Đó là những phẩm chất không ai có thể phủ nhận bởi chúng đã được kiểm nghiệm và khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên, không ai có thể toàn vẹn, cùng với những phẩm chất cần luôn được phát huy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những mặt hạn chế cần sửa đổi. Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, đồng thời cũng nhận thức được những mặt còn yếu kém cần khắc phục là điều hết sức cần thiết để mỗi con người nói riêng và cộng đồng Việt Nam nói chung vươn lên tự hoàn thiện mình, không ngừng tiến bộ để đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử đất nước.
Bài viết đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam - đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới.
3. Tóm tắt:
Bài viết nêu ra bốn ý lớn, mỗi ý lại được cụ thể hoá bằng một hệ thống luận cứ, dẫn chứng khá sinh động:
- Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người.
- Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước.
- Những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam cần được nhận thức rõ trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới.
II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM
1. Thời điểm chuyển từ thế kỉ XX sang thế kỉ XXI là một điểm mốc quan trọng trong lịch sử nhân loại. Nó không chỉ là mốc thời gian mà hệ trọng hơn, nó là mốc của sự phát triển thế giới, tất nhiên cái mốc phát triển này không đồng đều giữa các khu vực, các quốc gia với những thang bậc trình độ phát triển khác nhau. Riêng đối với đất nước đang trên chặng đường hội nhập và phát triển như Việt Nam thì đây là thời điểm có ý nghĩa quyết định, đặt ra trước mắt cả những cơ hội và thách thức lớn. Để có thể tự vượt lên chính mình, từng bước hội nhập vào nền kinh tế tri thức trong thế kỉ tới, Đảng và nhà nước ta đã có những chiến lược cụ thể về mọi mặt. Nhưng để làm được việc đó, trước hết phải có sự nhận thức đầy đủ, sâu sắc về những cái mạnh, cái yếu trong nội lực. Bài viết Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Phó thủ tướng Vũ Khoan cho chúng ta thấy rõ điều này.
Tác giả viết bài văn này vào đầu năm 2001, khi đất nước ta cùng toàn thế giới bước vào năm đầu tiên của thế kỷ mới. Đây là thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ, hai thiên niên kỷ. ở nước ta, công cuộc đổi mới bắt đầu từ cuối thế kỷ trước đã thu được những thành quả nhất định, chúng ta bước sang thế kỷ mới với những mục tiêu vô cùng quan trọng, đó là tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, kết hợp với những truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời để đưa nước ta tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Có thể xác định lại dàn ý của bài viết như sau:
Bài viết nêu ra bốn ý lớn, mỗi ý lại được cụ thể hoá bằng một hệ thống luận cứ, dẫn chứng khá sinh động:
- Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người.
- Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước.
- Những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam cần được nhận thức rõ trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới.
Trong bài viết này, tác giả đã nêu ra một vấn đề hệ trọng: chúng ta cần nhận thức như thế nào và làm những việc gì để chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới? Vấn đề ấy không chỉ có ý nghĩa thời sự trong thời điểm chuyển giao thế kỷ mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với cả quá trình đi lên của đất nước bởi vì để đáp ứng những nhiệm vụ nặng nề mà lịch sử và dân tộc đã giao phó, con người Việt Nam nói chung và lớp trẻ Việt Nam nói riêng không thể không nhận thức rõ những mặt mạnh cũng như những điểm còn hạn chế của mình để vừa phát huy những mặt tích cực, đồng thời khắc phục, sửa chữa những mặt còn yếu kém, không ngừng hoàn thiện mình, xứng đáng là chủ nhân của đất nước.
3. Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất, bởi vì:
- Con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử.
- Trong thời kì nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, con người lại càng có vai trò nổi bật.
4. Trong sự phát triển chung của thế giới, khi khoa học, kỹ thuật có tốc độ phát triển vô cùng mạnh mẽ, sự giao thoa, hội nhập ngày càng sâu rộng giữa các nền kinh tế, đất nước ta nói chung và các thế hệ hiện tại nói riêng đang đứng trước những nhiệm vụ vô cùng trọng đại, đó là đồng thời giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời nhanh chóng tiếp cận với nền kinh tế tri thức.
5. Khi nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của người Việt Nam, tác giả đã không làm một phép liệt kê giản đơn từ ưu điểm đến nhược điểm mà cứ mỗi khi nêu một ưu điểm, tác giả lại đề cập đến một nhược điểm. Điều đáng chú ý là những ưu điểm và nhược điểm đó luôn được đặt trong yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Cụ thể:
- Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng lại thiếu Giá trị tác phẩm, kiến thức thực hành.
- Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt qui trình công nghệ, chưa quen với cường độ lao động khẩn trương.
- Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau nhưng đồng thời lại cũng thường đố kị nhau trong công việc.
- Bản tính thích ứng nhanh nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen, nếp nghĩ, quen bao cấp, rất sùng ngoại nhưng có khi lại bài ngoại đến mức cực đoan, khôn vặt, ít giữ chữ "tín".
6. Thông thường, trong sách báo và trong các phương tiện thông tin đại chúng, khi nói đến phẩm chất của người Việt Nam, người ta chỉ đề cập đến cái tốt, đến yếu tố tích cực, đáng biểu dương, học tập. Cách ca ngợi một chiều như vậy không phải không có yếu tố tích cực, thậm chí còn rất cần thiết khi chúng ta muốn phát huy sức mạnh của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, điều đó nếu lặp đi lặp lại mãi sẽ khiến chúng ta không thể đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của mình, dẫn đến thái độ ngộ nhận, tự thoả mãn, không chịu học hỏi người khác. Bài viết này đã mang đến cho bạn đọc cảm giác rất bất ngờ. Tác giả không ca ngợi một chiều, cũng không chỉ toàn phê phán một cách cực đoan mà nhìn nhận song song, đối chiếu và đánh giá những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của người Việt Nam trong quan hệ với công việc, trong yêu cầu của sự phát triển xã hội. Đó là sự đánh giá rất khách quan và khoa học, xuất phát từ thiện chí của tác giả muốn để chúng ta nhìn nhận về mình một cách đúng đắn, chân thực, ý thức được những mặt tốt cũng như mặt chưa tốt của mình để phát huy hoặc sửa đổi.
7. Trong văn bản, tác giả đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ: "nước đến chân mới nhảy", "trâu buộc ghét trâu ăn", "liệu cơm gắp mắm", "bóc ngắn cắn dài"... Việc sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian như vậy khiến cho bài viết thêm phần sinh động, cụ thể, giàu ý nghĩa.
8. Mặc dù đây là bài nghị luận mang tính xã hội học nhưng tác giả đã cho chúng ta thấy một lối viết không hề khô cứng nhờ vào khả năng diễn đạt trong sáng, giản dị, khả năng vận dụng linh hoạt các thành ngữ, tục ngữ. Việc sử dụng chính những thành ngữ, tục ngữ của người Việt Nam để phân tích những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam đã giúp tác giả khái quát được những vấn đề mang tính cố hữu trong ý thức văn hoá của dân tộc, khiến ngôn ngữ nghị luận giàu hình ảnh, lột tả được thực tế. Nói đến nghệ thuật lập luận của bài viết này cũng phải nói đến việc dẫn ra những dẫn chứng cụ thể mà sâu sắc qua sự đối sánh với người Nhật, thao tác này vừa có ý nghĩa trong nhãn quan khoa học vừa có tác dụng kích thích tinh thần học hỏi, tự tôn trong tâm lí người Việt Nam.
9. Bài viết Hành trang chuẩn bị vào thế kỉ mới thực sự trở thành hành trang trong nhận thức của con người Việt Nam nếu muốn hội nhập với kinh tế thế giới.
CHÓ SÓI VÀ CỪU
TRONG THƠ NGỤ NGÔN CỦA LA PHÔNG-TEN
(H. Ten)
I - GỢI Ý
1. Tác giả:
Hi-pô-lít Ten (1828-1893) là triết gia, sử gia đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng của Pháp, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về truyện ngụ ngôn của La-phông-ten. 
2. Tác phẩm:
Đây là một bài nghị luận văn chương, trích từ chương II, phần II của công trình La-phông-ten và thơ ngụ ngôn của ông, in năm 1853.
3. Tóm tắt:
Bài viết gồm hai phần: 
- Phần một (từ đầu đến "tốt bụng như thế"): hình tượng con cừu trong thơ La-phông-ten; 
- Phần hai (còn lại): hình tượng chó sói trong thơ La-phông-ten.
II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM
Bài nghị luận văn chương Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten vận dụng thành công thủ pháp so sánh. Hai phần của bài viết như hai vế của một thế đối sánh tương phản: cừu - sói. Và nếu như nhìn tổng thể là sự đối sánh giữa hai đối tượng được phản ánh thì trong cấu trúc của từng phần, H. Ten lại tạo ra mạch tương phản giữa cái nhìn của một nhà vạn vật học và cái nhìn của một nhà thơ.
ở phần đầu của văn bản, sau khi dẫn ra những câu thơ của La Phông-ten về "chú cừu non", H. Ten nói đến hình ảnh con cừu trong con mắt của nhà vạn vật học Buy-phông. Qua con mắt của nhà khoa học này, con cừu hiện ra với bản tính "ngu ngốc và sợ sệt". Tác giả phân tích những tập tính của loài động vật này một cách chính xác. Còn La Phông-ten thì khác. Bằng một nhãn quan của một nhà thơ, một nghệ sĩ, Phông-ten nhìn nhận lũ cừu như những con vật "thân thương và tốt bụng". Sự khác nhau ấy là sự khác nhau của hai nhãn quan, hai loại hình nhận thức. Cách nhận thức của Buy-phông là cách nhận thức duy lí, thực chứng của khoa học; còn cách nhận thức của La Phông-ten là cách nhận thức thẩm mĩ, nhân văn của nghệ thuật. Không có ai sai trong hai trường hợp trên mà chỉ có sự khác nhau giữa hai con đường. Tuy nhiên, tác giả tạo ra sự so sánh này là nhằm làm nổi bật đặc trưng trong phản ánh và thể hiện của thơ ca nói riêng, nghệ thuật nói chung. Những đặc trưng này tiếp tục được tác giả làm rõ trong phần hai của văn bản, với những nhận xét thú vị về sự phản ánh con vật đối lập với con cừu: chó sói.
Dưới con mắt của La Phông-ten hay Buy-phông thì con chó sói đều là sự đối lập với con cừu. Nhưng ở La Phông-ten, một mặt con chó sói vẫn là "bạo chúa của cừu", "là một tên trộm cướp", "là một gã vô lại luôn luôn đói dài và luôn luôn bị ăn đòn"; mặt khác, "cũng đáng thương", "khốn khổ và bất hạnh". Như vậy, điểm thống nhất trong sự thể hiện hai nhân vật đối lập của nhà thơ là tình thương. Còn điểm thống nhất trong nhận xét của nhà khoa học Buy-phông là chính xác. Dù là cừu hay sói thì với Buy-phông chúng đều không nhận được một tình thương nào cả. Tiêu chí của nhà vạn vật học là tính chính xác, trung thực trong mô tả, phân tích đối tượng. Cho nên, trước sau con chó sói chỉ là một con vật với "bộ mặt lấm lét, dáng vẻ hoang dã, tiếng hú rùng rợn, mùi hôi gớm ghiếc, bản tính hư hỏng, cái gì cũng làm ta khó chịu, nó thật đáng ghét, lúc sống thì có hại, chết rồi thì vô dụng".
Hơn nữa, dù là "bạo chúa" thì con chó sói trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten còn được thể hiện với một tính cách phức tạp, khác với con chó sói thuần nhất chỉ là con vật có hại trong sự nhìn nhận của nhà bác học. Nhà thơ đã phát hiện ra những khía cạnh khác của con chó sói và nếu như Buy-phông dựng lên một bi kịch về sự độc ác của chó sói thì Phông-ten lại dựng lên hình tượng chó sói như là nhân vật trong vở hài kịch của sự ngu ngốc.
Căn cứ trên những hạt nhân sự thật nào đó của những con vật, nhà thơ sáng tạo nên những hình tượng nhân vật và gửi vào trong đó tình cảm của mình, sự cảm thông hay sự phê phán của mình. Những con vật, thực chất là bóng dáng của những con người với những tính cách khác nhau trong đời sống xã hội. Nhà thơ mượn hình ảnh con vật để khái quát những vấn đề của con người.

Tài liệu đính kèm:

  • doctac_pham_chuyen_thi_vao_lop_10_mon_van_phan_14.doc