19 Giáo án Ngữ văn 11 – Bài: Người cầm quyền khôi phục uy quyền mới nhất

I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1. Kiến thức:

– Nắm được những kiến chung về tác giả Huy Gô và tác phẩm Những người khốn khổ

– Hiểu được tình cảm yêu ghét của của Huy Gô đối với các nhân vật trong đoạn trích

– Nắm được những nét nghệ thuật tinh tế của tác giả trong việc xây dựng kịch tính truyện và nhân vật

2. Kỹ năng:

– Phân tích tác phẩm văn xuôi lãng mạn của Huy Gô

3. Thái độ:

– Tình cảm yêu ghét đúng đắn-Ý thức được sự tốt đẹp của cái cao cả, của tình người trong đời sống.

II. CHUẨN BỊ:

1. Chuẩn bị của giáo viên:

– Đọc SGK, SBT, SGV, TLTK, tổng hợp tư liệu, rút kinh nghiệm từ bài trước, soạn giáo án bài mới.

– Chuẩn bị đồ dùng dạy học, bảng phụ, phiếu học tập, bài tập ra kì trước (nếu có).

– Phương án tổ chức lớp học, nhóm học: phát vấn, nêu vấn đề, đàm thoại với cá nhân, tập thể, thảo luận nhóm, thuyết trình, phân tích kết hợp với giảng bình

2. Chuẩn bị của học sinh:

– Ôn bài cũ, thuộc bài, làm đầy đủ các bài tập ra kì trước.

– Đọc SGK, SBT, TLTK để củng cố kiến thức đã học, soạn bài và chuẩn bị cho bài mới.

III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Có thể vận dụng linh hoạt các hình thức: GV giải thích, HS quan sát tranh, ảnh, đọc, tóm tắt văn bản, đặc biệt là sử dụng hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS cắt nghĩa, phân tích, bình luận chi tiết, hình ảnh, nhân vật, lời văn, chủ đề tư tưởng. của tác phẩm.

 

doc
11 trang
Người đăng
hoan89
Ngày đăng
06/10/2021
Lượt xem
484Lượt tải
0
Download
Bạn đang xem tài liệu “Giáo án Ngữ văn 11 – Bài: Người cầm quyền khôi phục uy quyền”, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
NGƯỜI CẦM QUYỀN KHÔI PHỤC UY QUYỀN
(Trích “Những người khốn khổ”)
V. Huy - gô
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức:
- Nắm được những kiến chung về tác giả Huy Gô và tác phẩm Những người khốn khổ
- Hiểu được tình cảm yêu ghét của của Huy Gô đối với các nhân vật trong đoạn trích
- Nắm được những nét nghệ thuật tinh tế của tác giả trong việc xây dựng kịch tính truyện và nhân vật
2. Kỹ năng:
- Phân tích tác phẩm văn xuôi lãng mạn của Huy Gô
3. Thái độ:
- Tình cảm yêu ghét đúng đắn-Ý thức được sự tốt đẹp của cái cao cả, của tình người trong đời sống.
II. CHUẨN BỊ:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Đọc SGK, SBT, SGV, TLTK, tổng hợp tư liệu, rút kinh nghiệm từ bài trước, soạn giáo án bài mới.
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học, bảng phụ, phiếu học tập, bài tập ra kì trước (nếu có).
- Phương án tổ chức lớp học, nhóm học: phát vấn, nêu vấn đề, đàm thoại với cá nhân, tập thể, thảo luận nhóm, thuyết trình, phân tích kết hợp với giảng bình
2. Chuẩn bị của học sinh:
- Ôn bài cũ, thuộc bài, làm đầy đủ các bài tập ra kì trước.
- Đọc SGK, SBT, TLTK để củng cố kiến thức đã học, soạn bài và chuẩn bị cho bài mới.
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Có thể vận dụng linh hoạt các hình thức: GV giải thích, HS quan sát tranh, ảnh, đọc, tóm tắt văn bản, đặc biệt là sử dụng hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS cắt nghĩa, phân tích, bình luận chi tiết, hình ảnh, nhân vật, lời văn, chủ đề tư tưởng... của tác phẩm.
IV.HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1. Ổn định tình hình lớp: 
- Ổn định trật tự, kiểm tra sĩ số, tác phong học sinh; chuẩn bị kiểm tra bài cũ.
2. Kiểm tra bài cũ: 
? Hãy trình bày ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh cái bao? Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm Người trong bao?
- Dự kiến trả lời:
3. Giảng bài mới: 
- Giới thiệu bài: V.Huy-gô là nhà văn của chủ nghĩa nhân đạo. Ông là cha đẻ của dòng văn học lãng mạn Pháp. Trong tiết học này chúng ta sẽ được biết đến tài năng của ông qua đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền”. Đây là đoạn tiêu biểu trong tiểu thuyết nổi tiếng “Những người khốn khổ” của V.Huy-gô.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung kiến thức cần đạt
*Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu tiểu dẫn
- Gọi HS đọc tiểu dẫn SGK.
Sử dụng phiếu học tập (5p)
GV khái quát lại những nét chính về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu vài nét tiêu biểu về cuộc đời nhà văn V. Huygô.
 Cuộc đời gắn liền với nước Pháp thế kỉ 19. Từ một nhà thơ thần đồng,(15 tuổi đoạt giải thưởng về thơ viện hàng lâm, 20 tuổi in tập thơ đầu tay) một quý tộc thành nhà văn lãng mạn có tư tưởng dân chủ, đứng về phía nhân dân chống lại chính quyền phong kiến phản động.
- Nhà văn Pháp đầu tiên được chôn cất trong hầm mộ điện Păng-tê-ông - nơi dành riêng cho vua chúa và danh tướng.
-GV: Những điểm nổi bật trong hoạt động sáng tác của ông? Kể tên những tác phẩm tiêu biểu? 
I. Tìm hiểu tiểu dẫn
1. Tác giả
a. Cuộc đời: 
- Vích-to Huy-gô (1802 -1885) 
- Tuổi thơ đã sống trong cảnh gia đình có nhiều mâu thuẫn giữa cha và mẹ.
- Sách + sự giáo dục của mẹ + ấn tượng mạnh mẽ từ những hành trình vất vả theo cha... đã để lại dấu ấn trong sáng tạo thiên tài của ông.
- Là người thông minh, tài năng nảy nở sớm
- Suốt đời hoạt động xã hội và chính trị vì sự tiến bộ của thời đại.
b. Sự nghiêp sáng tác: Sáng tác và cuộc đời gắn với thế kỉ XIX thế kỉ đầy bão tố cách mạng.
- Nghệ sĩ toàn diện, sáng tác 3 thể loại:
+ Tiểu thuyết: Những người khốn khổ (1862), Nhà thờ đức bà Pari (1831)
+ Thơ: Tia sáng và bóng tối (1840), Trừng phạt (1853)
+ Kịch: Héc-na-ni (1830
- Tác phẩm thể hiện lòng thương yêu bao la đối với những người dân lao động nghèo khổ.
- Cây đại thụ, nhà văn lớn của nước Pháp và nhân loại thế kỉ XIX. Được công nhận danh nhân văn hóa thế giới 1985.
GV: Giới thiệu khái quát tác phẩm Những người khốn khổ? 
Đọc tóm tắt để nắm cơ bản nội dung tác phẩm..
- Nội dung từ đầu đến đoạn trích: Giăng Van-giăng - thợ xén cây- bị kết án tù khổ sai chỉ vì lấy trộm bành mì cho 7 đứa cháu đói khát và những lần vượt ngục không thành. Sau 19 năm tù đầy Giăng Van-giăng được tha nhưng bị mọi người xua đuổi. Được giám mục Mi-ri-en cảm hoá, ông quyết tâm làm lại cuộc đời. Nhờ nghị lực, thông minh và may mắn, Giăng Văn-giăng trở thành thị trưởng Ma-đơ-len và chủ nhà máy sản xuất thuỷ tinh giàu có. Ông ra sức làm việc thiện. Để cứu một ngời nghèo bị bắt và kết án oan, Giăng van giăng quyết định tự tố cáo mình với nhà chức trách và chờ cảnh sát đến bắt mình.
2. Tiểu thuyết “Những người khốn khổ”
Sáng tác năm 1862
- Cấu trúc: Gồm 5 phần, hơn 2000 trang, hàng trăm nhân vật.
- Nội dung: Tái hiện khung cảnh Pari và nước Pháp ba thập kỉ đầu thế kỉ 19, xoay quanh nhân vật Giăng Van-giăng từ khi được ra tù đến lúc qua đời, với một thông điệp: trên đời, chỉ có một điều ấy thôi, đó là thương yêu nhau.
- Nêu vị trí, nội dung đoạn trích? 
Có thể chia bố cục đoạn trích thành ba phần
- Phần một: từ đầu đến...chị rùng mình
(Giăng Van-giăng chưa mất hết uy quyền)
- Phần hai: Tiếp đó đến Phăng-tin đã tắt thở
(Giăng Van-giăng đã mất hết uy quyền)
- Phần ba: còn lại (Giăng Van-Giăng khôi phục uy quyền) 
- Hệ thống nhân vật: 3 nhân vật chính, chia làm hai tuyến đối lập nhau: 
Những người khốn khổ
Kẻ cầm quyền
Giăng Van - giăng và Phăng tin: cưu mang, giúp đỡ nhau trong tình thương đồng loại.
-Đại diện cho giai cấp tư sản: đến để canh chừng và bắt Giăng Van - giăng.
Đại diện cho tình thương
Đại diện cho cường quyền tàn bạo.
Những con người khốn khổ đều là nạn nhân trong vòng vây tàn bạo của quyền uy. Một kẻ đang bị bắt là Giăng Van - giăng, người kia đang bị ốm nặng, phải nằm ở bệnh xá, bị Gia - ve uy hiếp về mặt tinh thần. Hai con người này cưu mang, giúp đỡ nhau về mặt tinh thần. Van - giăng mong làm sao cứu được tính mạng người phụ nữ đáng thương và tìm được con cho chị. Phăng tin thì dựa vào cái bóng của ông thị trưởng mà hi vọng. Nhưng trong phút chốc, tất cả sụp đổ tan tành. Tên cảnh sát Gia - ve đã cắt đứt những hi vọng cuối cùng của họ. Phía bên kia, đối đầu là thanh tra cảnh sát Gia - ve. Mâu thuẫn chủ yếu diễn ra giữa hai nhân vật: Giăng Van - giăng và Gia - ve. Sự phân tuyến các nhân vật gần giống trong văn học dân gian: rạch ròi, dứt khoát thiện - ác,
3. Đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền”
a. Vị trí, nội dung
- Chương IV, quyển 8, phần I, tập 1.
- Tóm tắt nội dung đoạn trích: người cầm quyền khôi phục uy quyền kể lại tình huống thanh tra cảnh sát Gia-ve - một hung thần ác sát đối với thế giới tội phạm dẫn lính đến bắt Giăng Van-giăng khi ông đang chứng kiến cảnh cô thợ khâu Phăng-tin hấp hối.
- Nêu ý nghĩa nhan đề đoạn trích? 
b. Nhan đề “Người cầm quyền khôi phục uy quyền”
- Nhan đề do chính tác giả đặt, lựa chọn, thể hiện nội dung, tư tưởng của đoạn trích.
- Lâu nay Gia - ve vẫn phục tùng thị trưởng Ma - đơ - len, tuy có lúc nghi ngờ ông chính là tên tù khổ sai Giăng Van - giăng thay tên, đổi họ. Bây giờ, Giăng Van - giăng đã trở lại với họ tên thật của mình, nên gã thanh tra mật thám khôi phục được quyền hành của mình => Người cầm quyền ứng với Gia - ve.
- Hành động của Giăng Van - giăng trước cái chết của Phăng tin khiến cho Gia - ve đang hống hách phải run sợ. Người khôi phục quyền uy chính là Giăng Van - giăng. Đó là quyền uy của tình thương.
c. Chủ đề: Đoạn trích thể hiện tình cảnh thống khổ của những người chịu cảnh đè nén của thế lực cường quyền trong xã hội. Qua đó nhà văn ca ngợi sự cao quý của tình thương giữa những con người cùng cảnh ngộ trong xã hội.
*Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản
Người cầm quyền : thâu tóm quyền lực về mình, muốn thể hiện quyền lực, bắt mọi người phải phục tùng mình!
Theo quan niệm của Huy-gô:
Người cầm qưyền là con người lí tưởng, được tất cả mọi người hướng tới. Đó là con người hiện thân của cái đẹp, cái thiện, có tâm hồn thánh thiện, cùng chia sẻ, nếm trải mọi nỗi khổ đau, bất hạnh của con người. Giăng Van-giăng là hiện thân của con người lí tưởng ấy.
-Ở đoạn trích này ta thấy: trong con mắt mọi người, nhất là Phăng-tin, ông thị trưởng Ma-đơ-len vẫn là vị cứu tinh. Ngay cả Gia-ve cũng phải khép nép, phục tùng nghe theo Giăng Van-giăng, Vì thế người khôi phục uy quyền chính là Giăng Van-giăng (lưu ý ở đoạn cuối tác phẩm: chính Giăng Van-giăng đã tha chết cho Gia-ve)
-GV: Tác giả đã miêu tả chân dung Gia - ve bằng những hình ảnh, chi tiết nào? 
HS tìm ý, trả lời.
GV đưa thêm dẫn chứng về Gia - ve:
“Mũi Gia - ve tẹt, có hai lỗ sâu hoắm. Hai bên má hắn có hai chòm râu rậm mọc ngược lên đến chân mũi. Lần đầu nhìn hai cái rừng ấy và hai cái hang ấy, ai cũng thấy khó chịu. Khi hắn cười - họa hoằn lắm và dễ sợ lắm - thì đôi môi mỏng dính dang ra, phơi bày nào răng nào lợi. Lúc ấy, xung quanh cái mũi là cả mọt vết nhăn nhúm đáng sợ, man rợ, trông như mõm ác thú. Gia - ve mà nghiêm nét mặt thì là một con chó dữ. Khi cười, hắn lại là một con cọp. Lại còn cái trán hẹp, cái cằm bạnh. Tóc tỏa xuống tận lông mày. Giữa hai con mắt lúc nào cũng có một nếp nhíu trông như luôn luôn giận dữ. Cặp mắt tối tăm, khó hiểu, Miệng thì mím lại một cách khắc nghiệt, đáng sợ. Cả người hắn toát ra một thứ quyền uy tàn ác. Người ấy trong tâm lí có hai ý thức rất đơn giản và có thể coi là tốt. Nhưng vì hắn cường điệu quá nên lai thành xấu. Hăn phục tùng cấp trên và thù ghét mọi hành động nổi loạn”...“Tất cả con người Gia - ve thể hiện sự rình mò, lén lút”... “Gia - ve là sự kinh hoàng của bọn lưu manh, tội phạm. Nghe đến tên y là họ tháo chạy, nhìn thấy mặt y là họ chết đứng”...
Gia - ve vốn là một con người, nhưng nghề nghiệp, cái nghề nghiệp lùng sục, săn tìm, bức hại con người đã làm cho gương mặt y hoàn toàn biến dạng. Khi đối diện với Giăng, hắn chỉ nói có hai tiếng “Mau lên”. Trong cái khẩu lệnh thay cho ngôn ngữ này có một hiệu ứng khách quan mà nhà văn miêu tả “Không còn là tiếng người nói mà là tiếng thú gầm”... Cường điệu hóa, tuyệt đối hóa cái ác theo hướng thú vật hóa con người là bút pháp miêu tả nhân vật của Huy - gô. Với biện pháp này, Gia - ve hiện lên đầy ấn tượng, dù chỉ với vài nét phác thảo đơn sơ.
GV: Tìm những chi tiết miêu tả ngôn ngữ, hành động và thái độ của Gia -ve với Giăng Van - giăng và Phăng - tin? Em có nhân xét gì về ngôn ngữ và hành động ấy?
HS tìm ý, trả lời.
Khi nắm được vận mệnh đối thủ trong tay, hắn chỉ cần nói “Mau lên” là đủ. Về ngữ điệu, câu nói rút gọn ấy chẳng có gì là to tát, ồn ào nhưng hắn tự biết nó đầy xung lực ở bên trong, nó được thoát ra cửa miệng sau năm năm chờ đợi. Từ một nhân viên cung cúc phục vụ dưới ông thị trưởng, giờ đây, lần đầu tiên thay vị đổi ngôi, hắn muốn nhấm nháp cái vị thế đảo ngược một cách lạnh lùng. Ý thức về quyền lực ở hắn đòi hỏi Giăng Van - giăng ở cách xưng hô “ông thanh tra”, ý thức ấy cho phép y bỗ bã không cần kiêng nể bất cứ điều gì. Ta nhận thấy trong hình ảnh Gia - ve thấp thoáng bóng dáng Nghị Quế trong văn học hiện thực Việt Nam, không hề động lòng thương trước tình cảnh của mẹ con chị Dậu, hay hình ảnh của một bá Kiến tàn nhẫn. Có như vậy mới thấy được hình tượng Gia - ve chính là hình tượng chung, đại diện cho chế độ tư bản tàn bạo và vô nhân tính.
 Gia-ve lâu nay vẫn phục tùng ông thị trưởng Ma-đơ-len, khi Giăng -van-giăng trở lại với tên thật của mình, tên mật thám tưởng đã có đủ điều kiện để khôi phục lại quyền hành của hắn.
Nếu cảm hứng nhân văn đã phát hiện ra ở Gia - ve một thứ bóng tối thì chủ nghĩa nhân đạo đã làm cho bóng tối ấy dày đặc hơn, đen kịt lại để đối lập nó với ánh sáng của nhân phẩm, của lương tri mà chỉ có thể thấy được ở những con người khốn khổ.
II. Đọc hiểu văn bản
1.Hình tượng nhân vật Gia - ve
-Là thanh tra cảnh sát, người dưới quyền thị trưởng Ma - đơ - len.
- Bản chất gian ác nên luôn muốn rình rập, tìm cách hãm hại người khác.
a) Bộ dạng: 
- Bộ mặt gớm ghiếc.
- Điệu nói man rợ và điên cuồng “không còn là tiếng người nói mà là tiếng thú gầm”
- Cặp mắt nhìn “như cái móc sắt, và với cái nhìn ấy, hắn từng quen kéo giật vào hắn bao kẻ khốn khổ”, “Phăng - tin đã thấy nó đi thấu vào đến tận xương tủy”.
- Cái cười ghê tởm phô ra tất cả hai hàm răng.
=> Biện pháp so sánh, phóng đại kết hợp lời bình của người kể chuyện khiến chân dung Gia -ve hiện lên như một con ác thú đáng ghê tởm.
b) Ngôn ngữ và hành động, thái độ:
-Thù địch, căm ghét con người, nhất là những con người bất hạnh. 
* Với Giăng Van-giăng:
-Ngôn ngữ: xưng hô mày - tao: “Thế nào! Mày có đi không?”, câu cụt, ngắn gọn đến tối đa “Mau lên”, “Nói to! Nói to lên!”
- Hành động:
+ Quát, hét lên, ngắt lời, đứng lì một chỗ mà nói.
+ Nắm lấy cổ áo - túm một túm lấy cổ áo và ca-vát , dậm chân.
- Thái đô: không thèm nghe.
-> Thô bạo, hung hăng, hống hách, tàn nhẫn.
=> Gia-ve đã khôi phục được uy quyền.
* Với Phăng-tin:
+Quát tháo, không để ý gì đến người bệnh
+ Tuyên bố thẳng Giăng Van-giăng là tên kẻ cắp, tên cướp, tên tù khổ sai. Điều này đã vùi dập niềm hi vọng nhỏ nhoi của Phăng-tin.
+ Gọi Phăng-tin là con đĩ, gái điếm đầy khinh miệt; hắn là nguyên nhân dẫn đến cái chết của Phăng - tin.
=> Gia-ve là kẻ nhẫn tâm, lạnh lùng trước nỗi đau của người khác. Hắn là con ác thú, con thú giữ cửa, tay sai, công cụ, hiện thân của cái ác trong xã hội đương thời.
-GV: Giăng Van - giăng đang ở trong hoàn cảnh và tâm trạng thế nào?
HS nhớ lại tóm tắt tác phẩm để trả lời.
Hoàn cảnh của Giăng Van - giăng thật ngặt nghèo. Một mặt ông không muốn sống giả dối trong yên ấm, giàu sang nhưng lương tâm day dứt, đặc biệt ông không muốn một người vô tội vì mình mà bị kết án oan; nhưng như vậy ông lại không có điều kiện để cứu mẹ con người thợ Phăng - tin khốn khổ khi ông đã tự thú và nộp mình cho cảnh sát. Bởi vậy tâm trạng của ông lúc này là vừa sẵn sàng chịu bị bắt, vừa cố sức nài nỉ, xin gia hạn cho ba ngày để lo việc Phăng - tin, để thưc hiện lời hứa với người sắp chết.
*Thảo luận nhóm:
-Nhóm 1: Nhân vật Giăng Van-giăng được miêu tả trực tiếp qua những yếu tố nào? Qua đó cho em thấy vẻ đẹp gì ở Giăng Van-giăng?
- Nhóm 2: Tìm những chi tiết để thấy Giăng Van-giăng được miêu tả gián tiếp? Qua đó, em thấy Giăng Van-giăng là người như thế nào?
-Nhóm 3: Tìm những lời bình luận của tác giả. Qua đó cho thấy vẻ đẹp gì ở Giăng Van - giăng?
-GV: Thái độ của Giăng Van - giăng với Gia - ve, kẻ cầm quyền, từng tố cáo mình và nay lại đến bắt mình như thế nào? Tại sao ông lại phải cầu xin và nói thầm trước mặt Gia - ve?
HS tìm ý, trả lời.
-GV: Khi Phăng - tin sợ quá mà chết, thái độ của Giăng Van - giăng với Gia - ve thay đổi thế nào? Câu nói cuối cùng chứng tỏ điều gì ở ông?
HS suy nghĩ, trả lời.
Mọi lời lẽ và thái độ nhún nhường của Giăng Van - giăng với tên thanh tra mật thám Gia - ve chỉ nhằm một mục đích: không muốn làm mất đi niềm hi vọng cuối cùng của Phăng - tin, không muốn làm đau thêm nỗi đau của một người đàn bà bất hạnh. 
Thái độ của Giăng Van - giăng với Phăng - tin không chỉ là của những người khốn khổ, bất hạnh với nhau mà gần như thái độ yêu thương, trân trọng, che chở của bậc đại hiền, của Chúa. Với Phăng - tin, Giăng Van - giăng là vị cứu tinh, là ân nhân, là thánh. Giăng Van - giăng coi việc giúp đỡ mẹ con Phăng - tin là nghĩa vụ thiêng liêng, là việc thiện mà ông tự nguyện làm xuất phát từ tình thương yêu những người khốn khổ mà oong từng là nạn nhân thê thảm. Và đó cũng là quan điểm, tư tưởng của tác giả.
Giăng Van- giăng thì thầm điều gì bên tai Phăng - tin lúc chị đã chết rồi? Người kể chuyện không nói rõ, nhưng chúng ta có thể đoán đươc đó là lời hứa đi tìm Cô - dét, đứa con gái của chị. Và sau này, ông đã cố gắng để thực hiện được lời hứa ấy. Hành động chăm sóc cuối cùng của Van - giăng với Phăng tin thật cảm động và ân cần.
Sức mạnh của tình thương, trong hoàn cảnh bất công và tuyệt vọng như trên có thể đẩy lùi bóng tối cường quyền và nhen nhóm niềm tin vào tương lai. Đó là giá trị của tư tưởng Huy - gô. Van - giăng quả thực đã đẩy lùi sự hung bạo của Gia - ve, hiện thân cho cường quyền và bóng tối - cái ác, đã đem lại chút hi vọng le lói cho Phăng - tin trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Có thể nói nụ cười trên môi của Phăng - tin là một thực tế vô lí, song xơ Xem - pli- xơ chỉ nói sự thật mắt thấy tai nghe, Câu “có những ảo tưởng cảm động, có thể là những sự thực cao cả” cho thấy một khía cạnh thiêng liêng, một tín ngưỡng ngây thơ, chất phác của con người. Không chỉ có nụ cười trên môi mà còn cả nụ cười trong ánh mắt xa xăm của Phăng - tin nữa. Tất nhiên đây là đôi mắt người đã chết, nhưng trong không gian thiêng liêng ấy, qua cách nhìn của bà xơ, ảo tưởng này có thể giải thích được.
-Quan niệm “Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại”là một cái nhìn lãng mạn, khác thường, không giống như quan niệm bình thường, thể hiện niềm tin bất diệt vào thế giới của cái thiện. Cái thiện bao giờ cũng gắn với ánh sáng, cái ác bao giờ cũng gắn với thế giới bóng tối.
2. Hình tượng Giăng Van - giăng
- Hoàn cảnh và tâm trạng
+ Giăng Van - giăng là con người lao động nghèo khổ. Xuất phát từ lòng thương cháu trong cảnh đói mà nhận 19 năm tù khổ sai.
+ Vừa sẵn sàng bị bắt, vừa muốn có thêm thời gian để giúp Phăng - tin.
a. Miêu tả trực tiếp
- Thái độ và hành động của Giăng đối với Phăng-tin và Giave:
Đối với Phăng-tin
Đối với Gia-ve
- Lời nói nhẹ nhàng và điềm tĩnh “Cứ yên tâm. Không phải nó đến bắt chị đâu”.
- Khi Phăng - tin chết:
+Giăng thì thầm (nói nhỏ) với Phăng -tin ª Cầu chúc cho linh hồn của Phăng - tin được siêu thoát. Ông như hứa với cô là nhất định sẽ tìm cô-dét.
+Hành động: nâng đầu, sửa sang, thắt dây cổ áo, vén tóc, hôn tay.
→ Nhân từ, dịu dàng, cao thượng. Hình ảnh một vị cứu tinh, một đấng cứu thế với con người khốn khổ.
- Cử chỉ điềm tĩnh, ngôn ngữ nhẹ nhàng, nhã nhặn, không hề khiếp sợ trước Gia-ve.
- Hạ giọng, nhún mình cầu xin cho Phăng-tin ( Muốn cứu Phăng - tinn).
- Muốn nói nhỏ, nói riêng với Gia-ve ( Giăng Van - giăng xử nhũn với Gia-ve để xin hắn cho 3 ngày tìm Cô-dét. Vì tình thương người mà anh hạ mình như thế.
- Khi Phăng-tin chết: thái độ và hành động của ông trở nên mạnh mẽ, quyết liệt: “giật gãy trong chớp mắt chiết giường sắt cũ đã op ẹp”, nhìn Gia - ve trừng trừng, “Tôi khuyên anh đừng quấy rầy tôi lúc này”.
=>Lạnh lùng, bình tĩnh và cương quyết.
b.Miêu tả gián tiếp:
- Phăng - tin: phó thác ước nguyện lớn nhất đời mình cho ông, cầu xin và tin tưởng tuyệt đối vào sự che chở của ông. 
- Xơ Xem - pli - xơ thường hay kể lại “lúc Giăng Van - giăng thì thầm bên tai Phăng - tin bà trông thấy rõ ràng một nụ cười không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt và trong đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng của chị khi đi vào cõi chết”.
=> Hình ảnh vị cứu tinh, đấng cứu thế.
c. Miêu tả qua lời trữ tình ngoại đề:
- Một loạt câu hỏi thể hiện sự đồng cảm, yêu thương giữa hai con người khốn khổ, lời hứa chân thành với người đã chết.
-“Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại”, Giăng Van - giăng đã xoa dịu nỗi đau của Phăng - tin. Thể hiện rõ nét đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn, luôn vượt lên hiện thực, vươn tới cái đẹp, cái thiện, cái thanh khiết.
à Giăng Van-giăng là hiện thân của tình yêu thương những người nghèo khổ. Đây cũng là lòng yêu thương của Huy-gô.
Chuyển ý: Để tạo nên giá trị nội dung sâu sắc cho đoạn trích, Huy - gô đã sử dụng thành công những bút pháp nghệ thuật đặc sắc. Em hãy khái quát lại giá trị nghệ thuật của đoạn trích?
HS suy nghĩ, trả lời.
3. Đặc sắc nghệ thuật:
- Xây dựng 2 tính cách đối lập hoàn toàn: thiện >< thấp hèn (Giăng Van - giăng và Gia - ve)
- Kết hợp nhiều bút pháp: so sánh, phóng đại, ẩn dụ, miêu tả trực tiếp, gián tiếp, trữ tình ngoại đề
→ Tô đậm, ca ngợi con người phi thường với trái tim tràn ngập yêu thương; tạo ấn tượng về sự đối lập thiện - ác.
-Tính kịch, sự đối lập tương phản và thủ pháp hãm chậm, gây sự bất ngờ: Gia - ve vào, nhưng không bắt ngay Giăng Van - giăng, Giăng Van - giăng cứ một mực cầu xin Gia -ve, cầu xin điều gì chưa rõ, đến khi đã rõ thì Phăng tin lại đột ngột sợ quá mà chết; sự thay đổi và hành động bất ngờ của Giăng Van- giăng, vẻ mặt thì thầm của Phăng - tin khi nghe lời thì thầm của Van - giăng; lời nói và hành động cuối cùng của Van - giăng; tất cả đều góp phần tạo nên tính kịch căng thẳng và hấp dẫn của đoạn văn như một màn kịch nhỏ.
*Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tổng kết
-GV: Em hãy khái quát lại những nét chính về nội dung đoạn trích và những đặc sắc nghệ thuật trong thể hiện nội dung ấy?
HS khái quát, trả lời.
III. Tổng kết
-Nội dung: Qua câu chuyện đầy kịch tính với những hình tượng tương phản, Huy - gô muốn gửi tới bạn đọc một thông điệp: trong hoàn cảnh bất công và tuyệt vọng, con người chân chính vẫn có thể bằng ánh sáng của tình thương đẩy lùi bóng tối của cường quyền và nhen nhóm niềm tin vào tương lai.
- Nghệ thuật: Sử dụng thành công bút pháp lãng mạn, nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, phóng đại.
V.Củng cố, dặn dò
- Nắm vững hình tượng nhân vật Giăng Van - giăng và Gia - ve trong thế đối lập để làm nổi bật chủ đề đoạn trích.
- Chuẩn bị “Thao tác lập luận bình luận”
PHIẾU HỌC TẬP
Câu 1. Thời thơ ấu của V. Huy - gô đã có những trải nghiệm khắc nghiệt nhưng vô cùng hấp dẫn nào?
a.Chịu giằng xé tình cảm do cha mẹ mâu thuẫn
b.Được tiếp xúc với kho sách phon phú và sự giáo dục nghiêm khắc của mẹ.
c.Ấn tượng mãnh liệt từ những hành trình vất cả theo cha chuyển quân
d. Cả a, b, c
câu 2. Dòng nào sau đây chỉ gồm các sáng tác của Huy - gô?
a.Những người khốn khổ, Thằng gù nhà thờ Đức Bà Pa -ri, Người trong bao.
b. Những người khốn khổ, Thằng gù nhà thờ Đức Bà Pa -ri, Chín mươi ba,Lá thu, Éc - ni - na.
c. Những người khốn khổ, Thằng gù nhà thờ Đức Bà Pa - ri, Tôi yêu em.
d. Những người khốn khổ, Thằng gù nhà thờ Đức Bà, Lão Gô - ri - ô, Vang bóng một thời.
câu 3. Đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” thuộc phần nào của tiểu thuyết “Những người khốn khổ”?
a.Phăng - tin
b.Cô - dét
c. Ma - ri - uýt
d. Tình ca phố Pơ - luy - mê và anh hùng ca phố Xanh Đơ - ni.
e. Giăng Van - giăng.
Câu 4. Kể tên những nhân vật chính trong đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền”: ............................................................................................................................................................................................................................................................................

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_ngu_van_11_bai_nguoi_cam_quyen_khoi_phuc_uy_quyen.doc