23 Về hình thức tự sự của Truyện Kiều | Trần Đình Sử mới nhất

Theo dõi PHEBINHVANHOC trên
Bạn đang xem: Về hình thức tự sự của Truyện Kiều | Trần Đình Sử Tại PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Bạn đang quan tâm đến Về hình thức tự sự của Truyện Kiều | Trần Đình Sử phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Về hình thức tự sự của Truyện Kiều | Trần Đình Sử

như m.bakhtin đã nói, hình thức văn học không bao giờ là hình thức dùng để trang trí cho một nội dung đã biết từ trước, mà là hình thức dùng để diễn đạt nội dung mới lần đầu tiên được phát hiện qua hình thức đó (1). Vì vậy, nghiên cứu hình thức trần thuật của Truyện Kiều chính là nghiên cứu sự sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du trong lịch sử. đây là một chủ đề thú vị và quan trọng, nhưng vẫn chưa được làm rõ.

những người yêu thích văn chương truyện ngôn tình xưa nay chỉ quan tâm đến những câu văn hay, những từ ngữ đắt giá, những “chữ nghĩa”, “nét nước” (theo cách kể của phan ngọc) và các biện pháp miêu tả. tả cảnh, tả tình. những người quan tâm đến một nội dung phản ánh hiện thực, trước hết phải xem xét các mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, tính cách và hoàn cảnh, cách thể hiện nó một cách khách quan, không phụ thuộc vào quan điểm đạo đức, đó không phải là một dạng tự truyện. gần đây, khi đề tài thi pháp học và truyện Kiều được đưa vào chương trình nghị sự, đã có những khám phá mới. một số người đã chỉ ra những “thao tác” nghệ thuật như bóc tách tình tiết cốt truyện một cách thô bạo, để nhân vật ngồi một mình, làm sơ, tạo thế đối lập, coi trọng phần kết … Phương pháp truyện, tạo sự đối lập là biện pháp phổ biến của cổ tường thuật, việc loại bỏ các chi tiết một cách tàn nhẫn không nhất thiết phải là một cách tiếp cận tiến bộ. Hãy kể những câu chuyện.

Bạn đang xem: Hình thức của truyện kiều

theo chúng tôi, Wellek và warren đúng, vấn đề chính của phương pháp tự sự là làm thế nào để quản lý mối quan hệ giữa người kể và câu chuyện của anh ta, trong việc tổ chức văn bản tự sự để tạo ra một câu chuyện mới (2). vấn đề cần xem xét là người kể chuyện và thái độ quan hệ của họ đối với câu chuyện.

người kể chuyện là một nhân vật được nhà văn tạo ra như một công cụ để hành động nhân danh họ. do đó, không thể có mối quan hệ bình đẳng giữa tác giả và người kể chuyện như nhiều sách nghiên cứu đã chỉ ra. phan ngoc bình luận rất hay, ngoài đời nguyễn du không nói nhiều nhưng trong truyện của kiều thì lười quá, lên án và than thở nhiều. Điều đáng chú ý ở đây là người kể chuyện kiều khác với người kể chuyện tiểu thuyết trong tập Thanh tâm tài tử. trong truyện kim và kiều, người kể chuyện đã vượt lên trên người kể chuyện lịch sử, người kể chuyện huyền thoại, nhưng anh ta lại xuất hiện trong vỏ bọc của người kể chuyện, tức là người kể chuyện bằng lời thoại trong đối thoại và trong chương tiểu thuyết. người kể đối thoại ban đầu là lời tường thuật miệng, sau đó được biên tập và in thành lời thoại, nó vừa có lời văn vừa có tính chất truyền khẩu. ông thường xuất hiện khi giao tiếp với người nghe, gọi họ là “khán giả”, tổ chức câu chuyện, bình luận, miêu tả hành động và nội tâm của nhân vật. anh ta là một người kể chuyện toàn trí, mọi biểu hiện của nhân vật anh ta đều nằm trong tầm hiểu biết của anh ta. những người kể chuyện khác nhau. không có bản in miệng. điều đó không được bộc lộ ra ngoài mà chỉ bộc lộ một cách ẩn ý qua lời kể (kỳ lạ là một lời nói báng bổ), qua lời nói ân hận, qua hành động (lần trước bị soi xấu trước đèn). nó tự giới hạn, nó chìm vào nhân vật, được kể từ quan điểm của nhân vật.

về người kể, ngày nay họ không còn đơn giản chỉ người kể ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba một cách hời hợt, (vì ngày nay người ta biết rằng “ngôi thứ ba là người được kể”) vắng mặt trong cuộc đối thoại. , vì những gì câu chuyện không thể kể; tất cả những người kể chuyện đều ở ngôi thứ nhất xưng tôi, chỉ khác nhau ở chỗ tiết lộ hoặc che giấu) nhưng tìm kiếm những yếu tố bên trong chi phối đặc điểm và chất lượng của những câu chuyện kể đó, tức là người có quan điểm, người kể, người nói và người xem.

Người kể chuyện vẫn có ý nghĩa riêng trong việc tạo ra giọng điệu trần thuật, một điều không thể xem nhẹ. nhưng lý thuyết tường thuật hiện đại đã nói về điểm nhìn, tiêu cự, nghĩa là, phương pháp nhận thức và nhìn thấy những người và sự vật được kể. phương thức tự sự thực chất là phương pháp nhìn sự vật và con người, một phương pháp phát hiện con người. Theo quan điểm đó, cái mới thực sự trong phương thức trần thuật của truyện Kiều chỉ có thể là cách trần thuật bằng điểm nhìn nội tâm của nhân vật, người kể mới có giọng điệu trần thuật bộc lộ thái độ tình cảm, cảm xúc trực tiếp của nhân vật. người kể chuyện với tư cách là người trong cuộc. Đó là phương thức trần thuật chưa từng có trong tiểu thuyết tài tửu của Nguyễn Du, cũng như trong truyện Nôm truyền thống trước đây. chỉ có điều, hình thức tự sự này bao hàm những đổi mới khác trong cách tả cảnh, tả tình và sự đổi mới của ngôn ngữ văn học.

Để hiểu được thân thế và ý nghĩa lịch sử của phương thức tự sự của Nguyễn Du Thiết, trước hết chúng ta hãy làm quen với các hình thức tự sự mà người kể chuyện hiện đại đã khái quát. Đây là câu chuyện tự truyện. theo quan điểm của lubomir dolezel trong cuốn sách các phương pháp tự sự trong văn học Séc (báo chí University of to Toronto, 1973) nó đã trải qua các hình thức trần thuật sau:

1. hình thức trần thuật ở ngôi thứ ba, không có tiêu cự, của một người kể chuyện biết trước và biết mọi thứ (toàn năng) của nhân vật. người kể chuyện là một người đàn ông ở trên nhân vật.

2. dạng tường thuật ngôi thứ ba với độ dài tiêu cự bằng không, người kể chuyện có thể đánh giá và xác định các nhân vật theo các nguyên tắc chung.

3. hình thức trần thuật ngôi thứ ba nhưng đã nhìn sự việc theo trọng tâm nội tâm của nhân vật: quan điểm của người kể chuyện chỉ giới hạn ở góc độ của nhân vật, cụ thể là. do đó, nội dung trần thuật không còn đơn giản là những sự thật bên ngoài mà người kể muốn thông báo mà là sự nhận thức, cảm nhận của nhân vật đối với những sự việc đó. nói cách khác, nội dung được kể được chuyển từ sự kiện bên ngoài vào thế giới chủ quan của nhân vật. các sự kiện bên ngoài thay đổi chức năng, trở thành cái cớ để bộc lộ tâm hồn và lương tâm của nhân vật.

4. hình thức trần thuật ngôi thứ nhất, lấy trọng tâm ra khỏi nhân vật. người kể chuyện đứng ngoài lề, không bao giờ nhìn thấy đầy đủ nhân vật và sự kiện mà luôn chạy theo, suy đoán.

5. Hình thức tường thuật ở góc nhìn thứ nhất nhưng có cách tiếp cận nhân vật, định giá mọi thứ theo cách nhìn của nhân vật.

6. hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất mang tính chất tự giác và tự bộc lộ, thấm đẫm tính chất chủ quan và nội tâm (3).

Các hình thức tường thuật trên đã tuần tự xuất hiện trong lịch sử. Từ thế kỷ X trở đi, trong văn học phương Tây, theo nhiều nhà nghiên cứu, chỉ phương thức tự sự (1) và (2) là chiếm ưu thế. mãi đến giữa thế kỷ 10 – 20 mới có cách biết (3) với g.flaubert, l.tolstoy. h james, virginia woolf…, tức là cách người kể chuyện che giấu + điểm nhìn của nhân vật chính. Trong văn học truyền thống Trung Quốc, theo các nhà nghiên cứu nổi tiếng, chỉ có hai phương thức (1) và (2) trong tiểu thuyết Trung Quốc từ cuối thế kỷ X trở đi.), phương thức (3) chỉ xuất hiện ở thời cận đại.

Nguyên nhân khiến hai phương thức trần thuật (1) và (2) thống trị trong một thời gian dài là do ảnh hưởng và áp lực của cách kể chuyện phổ biến đối với mối quan hệ người kể / người nghe. người kể luôn ở ngoài nhân vật, giải thích cho người nghe về nhân vật. Khi văn học tự sự chuyển từ mô hình “nói-nghe” sang mô hình “viết-đọc” để đọc trong im lặng, người kể đã ẩn mình sau những câu chữ, trở thành một người ẩn mình, trừu tượng, và nhờ cách thức mà anh ta có thể hòa nhập. với nhân vật để tạo thành câu chuyện thứ ba.

Trong lịch sử Trung Quốc, văn học tự sự chịu ảnh hưởng của hai truyền thống. trong truyền thống lịch sử, sử gia luôn tuân theo nguyên tắc “sử thực”, chống lại dân chúng và được bảo là quan chức hàm nên luôn đứng ngoài cuộc, đứng trên nhân vật. truyền thống thứ hai là truyền thống “diễn thuyết”, “diễn thuyết”, người kể chuyện dân gian đứng trước khán giả, vừa kể vừa diễn, nên hình tượng người kể chuyện luôn ở ngoài nhân vật một cách cụ thể khác (4).

Văn học Việt Nam có những truyền thống khác. Do không có truyền thống kể chuyện truyền miệng cho đám đông như một bài văn tế Trung Quốc, một tác phẩm lịch sử, từng được trình diễn, kể lại như một tiểu thuyết, nên phương pháp tường thuật đã không khác xa với tường thuật lịch sử bao nhiêu, chỉ có điều người kể tự giấu mình đi. bên ngoài. Việt Nam có truyền thống giải thích các bài hát lịch sử bằng thơ. khi trình diễn bài hát, người kể giấu kín, nhưng thường bộc lộ trực tiếp sự đánh giá cảm xúc của mình. đến thế kỷ 18 – với hình thức ngâm thơ, xuất hiện cùng với sự tiếp thu hình thức tự sự của các bài hát như truyện hoa và tiên nữ của Nguyễn Huy Tự, nguyễn du đã có cơ hội tổng hợp tự sự và thơ truyền thống để tạo thành một phương thức tự sự mới ( xem chương ba ở trên).

Dù sử dụng cốt truyện nổi tiếng từ tài năng của Thanh Tâm, Nguyễn Du đã sáng tạo ra một phương thức trần thuật mới chưa từng thấy trong tiểu thuyết Trung Quốc, cũng như chưa từng có trong truyện du ký. Nguyễn du đã đặt lời kể trong lăng kính cảm nhận của nhân vật, làm cho lời kể thấm đượm cảm xúc và nhằm mục đích khám phá nội tâm nhân vật, mặt khác chuyển tải lời bình có lí của thanh tâm. sức mạnh cảm xúc của người kể chuyện.

Để làm rõ điều trên, chúng ta hãy tìm hiểu mô hình trần thuật của truyện jinyun kiều và tiểu thuyết Trung Quốc nói chung. sau đó đi vào phân tích mô hình tự sự của truyện Kiều.

Truyền thống kể chuyện điển hình của Trung Quốc là phong cách “bạch miêu”, tức là làm mộc, không vẽ tranh. khi miêu tả con người và sự vật, người ta bỏ đi tất cả những hình ảnh trang sức được coi là trống rỗng và không thực tế. người ta cũng bỏ hết những miêu tả chi tiết tĩnh lặng, rườm rà, hời hợt về sự vật. thuật ngữ “con mèo trắng” vốn có trong hội họa, chỉ dùng những nét vẽ, không tô màu, không đậm nhạt. bù lại, mèo trắng yêu cầu miêu tả đường nét chi tiết, cụ thể và đầy đủ để không để đối tượng ẩn trong bóng tối. điều này làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết Trung Quốc. Kim thanh than là người đầu tiên áp dụng khái niệm này trong phê bình để nói về nghệ thuật tự sự. Theo anh, miêu tả Lâm Tung ở Thủy hử trong màn 9 là điển hình của phong cách Mộc. Ví dụ: “Bây giờ gió ngày càng mạnh và tuyết rơi ngày càng nhiều. Lâm Tùng vội vàng trở lại xưởng, mở cửa đi vào, trong lòng đột nhiên kinh ngạc kêu lên: “Trời ạ! Cái kia sân cỏ rơi xuống rồi, chúng ta đi nơi nào?” rồi sợ lửa bên trong chưa dập tắt mà bén lửa thì nguy hiểm nên đưa tay ra sờ thì thấy nước tuyết tuôn ra lạnh như tro. một lần nữa, anh ta sờ lên giường và lấy khăn che kín người, và thấy trời sắp tối… ”(5).

nhà phê bình trường trù pha nhận xét rằng kim bình mai cũng nhấn mạnh phong cách tranh mộc mạc và đề cập đến những đoạn tiêu biểu. như đoạn nói về phan kim liên ở màn đầu: “Kim liên, từ khi làm võ lại, vợ Đại tướng mặt mũi xấu xí, tính tình quê mùa, ghét anh ta, hay đánh nhau, bèn kêu oan cho đại phu. , đó là lý do tại sao. ” : “Trên đời làm gì có đàn ông, sao lại lấy một người như đệ đệ …”. Anh cho rằng, một người phụ nữ có chút nhan sắc nhưng có bản lĩnh thông minh sẽ không thể sống yên ổn với một người chồng tầm thường. xưa nay hiếm khi tài tử song tu. phần võ thuật, anh tiếp tục làm việc chăm chỉ, hàng ngày bán bánh bao, đến tối mới về nhà. Kim nương ở nhà một mình, cả ngày chỉ biết nhìn nhan sắc của mình trong gương rồi thở dài, khóc cho chính mình. người xem chắc cũng biết đó là thói quen của đàn bà con gái nên không nên trách… ”(6). các tác giả ít sử dụng các tính từ, các chi tiết trang sức, tô điểm mà chỉ kể những chi tiết vừa đủ để người đọc hình dung rõ ràng về con người và sự việc. hay như đoạn trong 30 kim liên ghen tị vì binh nhì sắp sinh, ai cũng đến thăm, người trong, người ngoài hỏi han để lấy lòng tay mon khanh. kim liên nổi gai ốc, bèn gọi ngọc sảnh đến nói: “cha ơi, cả nhà đầy người, đùn đẩy nhau, chẳng khác gì sinh con, chẳng khác gì đẻ voi!”… mộc, không tranh gỗ tường thuật là cách trần thuật khách quan, cụ thể, chính xác và có thần. mặt khác, tường thuật bằng gỗ về bản chất là kiểu trần thuật của người kể chuyện, người biết chuyện, biết trước mọi chuyện, kể lại mọi chuyện theo sự hiểu biết của mình, của một người lạ, trình bày sao cho người đọc có thể hình dung rõ ràng sự việc. sự cố.

tài sắc vẹn toàn của thanh tâm cũng làm chủ kiểu “mèo trắng” với vẻ ngoài mộc mạc. Ví dụ: “Ta nói Kim Trọng kể từ ngày gặp lại họ, ngày đêm mơ tưởng muốn gặp lại, nhưng vẫn chưa tìm được kế! Một hôm chợt nghĩ:” Mình thật thông minh. mỗi người một nơi, dù có may mắn đến mấy cũng hiếm khi gặp được. nên chúng ta phải tìm một căn phòng bên cạnh nhà anh ấy làm nơi đọc sách, có lẽ chúng ta sẽ có cơ hội gặp nhau. “Nghĩ vậy, anh ta liền nhờ người cố gắng hết sức tìm hiểu, và tìm được một khu vườn tên là “lam thủy viên”, gần phía sau nhà vua. Kim trong rất vui và nói:

XEM THÊM:  Quá trình phát triển của văn học việt nam

– tên của khu vườn là triển lãm, nên câu chuyện về hai phù thủy này, dù không có bói toán cũng không thể tránh khỏi!…? ”

hay như ở tiết 7, kể chuyện Kiều xin thủy chung lấy kim loại nặng:

“Thủy kiều viết xong bức thư, niêm phong, đột nhiên làm cho thủy vân tỉnh lại, thấy nàng còn chưa ngủ, vội vàng đứng dậy nói:” Sư tỷ, ngươi lần này là khi nào còn chưa tỉnh? ” đi ngủ rồi sao không ngủ? mệt chết đi được không? Thủy kiều nói: “Ta có chuyện trong lòng, thật sự là không ngủ được, không thấy mệt nữa.” Em dậy rất tốt, sợ ngày mai nhiều việc quá, nói chuyện không xong. Tôi đã viết một bức thư khác, tôi mong bạn chấp nhận nó, ngày hôm sau cậu bé quay lại và nói với tôi rằng em gái tôi đã thất hứa và đã mang cây đàn sang một con tàu khác. Anh nói xong, nức nở không nói nên lời. thuy van nói: “ngươi thật sự là một người đa tình, lúc này thân thể của ngươi đã thuộc về người khác, không quan tâm chính mình chút nào, nhưng là nghĩ đến kim rất nhiều, cho dù là yêu mỹ nhân, ngươi cũng đừng.” ‘không phải lo lắng cho bản thân chút nào. Nhiều hơn có thể. Tôi không biết Kim sẽ quay lại với cô ấy như thế nào! “. thủy kiều nói “kim và kim hình tuy không thân, nhưng lòng đã định, đó chính là người chồng mà nàng cả đời trông cậy”. mã primo chỉ là một vấn đề khẩn cấp cần phải tuân theo, đó không phải là sự phù hợp của bạn! Không biết kiếp trước mình đã phạm phải nghiệp chướng gì mà hình thành nhóm nhân duyên nghiệt ngã này. Tôi đi chuyến này, nếu ở lại được thì sống khiêm nhường ban ngày, không gả cho anh, chỉ mượn việc để trả nghiệp kiếp trước. còn nếu không xong thì chết không phải là không muốn sống, đó là hồn ma kiếp trước mượn cái chết trả nợ ân tình. Ta xin ngươi cúi đầu kim, nói rằng thủy chung yêu hắn sâu đậm, dù chết cũng khó trả, chết yêu cũng không quên được. Anh dặn cô phải cố gắng đạt được danh vọng, lo cho cha mẹ, chị, em, nhớ cô gấp trăm lần. Thủy kiều kiếp này không thể báo đáp ngươi, thì kiếp sau hắn sẽ đáp lại ân tình sâu nặng của ngươi. “Nói xong, ông ấy ngất trên mặt đất” (7). tất cả đều là những nét vẽ mộc mạc, để người đọc biết mọi việc diễn ra như thế nào, nhân vật nghĩ gì, nói gì và làm gì. nếu muốn thể hiện nội tâm của nhân vật, hãy để nhân vật “tâm sự” hoặc “thầm nghĩ” và coi đó là những sự thật khách quan. người kể không biết cách tường thuật đời sống nội tâm của nhân vật để bộc lộ điểm nhìn cụ thể và hạn chế.

đồng thời, truyện kim văn kiều ngoài con mèo trắng còn có phần bình luận lý lẽ ở đầu mỗi tập. ví dụ như hành động 7 ở trên, ở phần đầu có chú thích như sau:

“Lần đầu tiên han y đến đưa thư cho tể tướng, bị nhiều người chê cười, chê bai, không biết là đối xử tàn nhẫn như cha mẹ mình, nên không biết xấu hổ, không ngờ lại đưa thư. Tình yêu của Thủy Kiêu dành cho Kim trong, nếu là ở một người con gái khác, tôi không biết sẽ giấu diếm được bao nhiêu, nhưng Thủy Kiêu đã thẳng thắn nói với bố mẹ mình, không chút xấu hổ. nó đồng ý với ý muốn của han du. Thật đáng nể khi bạn thuy kiều làm được điều đó! tuy nhiên sở thùy kiều dám nói thẳng, không cần biết, vì tuy giao duyên với kim nhưng không phạm tội dâm loạn. nếu câu chuyện “mệnh trung đợi trăng” hay “nếu ma gửi lòng người” mà anh kể cho bố mẹ nghe thì thật là trơ trẽn. cái này (tức là truyện ngôn tình – tĐs) không thể không phân biệt rõ ràng! ”

Đây cũng là một bài bình luận đạo đức bên ngoài, trích dẫn các tiền lệ để thể hiện sự trong trắng, chỉnh tề và đoan trang của nhân vật, nhằm quảng bá và tôn vinh nhân vật.

Kết hợp hai tính chất trước, mẫu văn tự sự của Kim Vân Kiều Truyện thuộc loại thứ hai của cách phân loại trước.

Trong các tiểu thuyết cổ điển của Trung Quốc, câu chuyện về giấc mộng honglou có phần hơi chủ quan, điểm nhìn biết trước được một phần thay thế bằng điểm nhìn hạn chế của nhân vật, thể hiện ở chỗ mặc dù câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba. , nhưng từ điểm nhìn của nhân vật, văn bản đã sử dụng nhiều từ “đã thấy”, “vừa thấy”, “đã nghe …” và nhiều lúc lời độc thoại của nhân vật dường như muốn nhảy ra khỏi sự điều khiển của người kể chuyện.

ví dụ về đoạn văn ở màn 35:

“đại ngọc vẫn đứng dưới bóng hoa, từ xa nhìn di hồng, ngắm ly hoan, đón xuân, thám xuân, tich xuân và tất cả hoan lạc đi hết lớp này đến lớp khác, chỉ có sách phượng là Đại ngọc trong lòng nghi ngờ … đại ngọc vừa ngẩng đầu liền thấy một đoàn người ăn mặc lòe loẹt: giả mẹ tựa vào vai phượng thư, tiếp theo là ảnh cô nương, sau đó. dì chu, vương gia và các lão phu nhân đi ngự viện di hong … “, +” lát nữa ở ngoài hoa viên, công chúa sợ mẫu thân mệt, muốn mời nàng lên thượng phòng nghỉ ngơi. . người mẫu thấy mỏi chân nên gật gật đầu. công chúa vội ra lệnh cho họ trở lại trước để sắp xếp chỗ ngồi. Đúng lúc đó khi dì kêu ốm, dì và chú chạy vào mở màn, nằm nệm… ”

Các “nhìn thấy”, “nhìn thấy” và “nghi ngờ” ở đoạn trên, cũng như “sợ hãi”, “muốn”, “nhìn thấy”, “cáo” ở đoạn dưới, theo nhà bình luận Trung Quốc, tất cả đều chứng minh lời kể của người kể chuyện trượt từ nhân vật chủ thể này sang nhân vật chủ đề khác và kể về tâm lý của họ. tuy nhiên, theo tôi, đó vẫn là những “sự kiện” mà người kể chuyện toàn tri biết và kể lại, chứ không phải trạng thái tâm lý của nhân vật được kể theo điểm nhìn của nhân vật. ở đây trong lời tường thuật không có lời nói chủ quan của nhân vật dưới hình thức bán hướng, độc thoại nội tâm hay dòng ý thức, không có sự tự giới hạn của người kể trong một phạm vi ý thức chủ quan nhất định. Mãi đến cuối thước, do ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây, các yếu tố của mô hình tự sự chủ quan thứ ba nói trên mới dần xuất hiện. Ví dụ, trong tiểu thuyết Biển hận của Ngô Ngạn Tổ (1866-1910), được coi là tiểu thuyết đầu tiên của Trung Quốc có lượng miêu tả tâm lý đáng kể, đặc biệt là tâm lý nhân vật, hình thức hoa, phương thức chuyển tải lời nói của nhân vật cũng phức tạp, phương thức thứ ba xuất hiện. Hãy xem một ví dụ:

“(hac dinh) lúc ấy trở về đông viện, hắn cùng mợ thảo luận nhiều hơn. Bạch, thà đồng ý cuộc hôn nhân này sẽ kết thúc, nhưng sau khi đồng ý, tôi phải tìm phòng khác và dọn đi. Trong. được rồi, nếu không thì con cái đã lớn rồi thì còn thể thống gì nữa!… ”. ở đây lời của người kể chuyện đã nhường chỗ cho lời nói gián tiếp, sau đó là lời nói trực tiếp tự do của nhân vật. chúng tôi cho rằng tiểu thuyết Trung Quốc chịu ảnh hưởng của các từ “thuyết”, “truyện” hoặc tường thuật bằng miệng, vì vậy, độc thoại bán trực tiếp và độc thoại nội tâm vẫn chưa chính thức xuất hiện cho đến nay (8).

thì truyền thống tự sự của Trung Quốc thể hiện trong truyện kim văn kiều mà nguyễn du đã tiếp thu chủ yếu là mô thức (2) – trần thuật ngôi thứ ba, chủ yếu được thuật lại một cách khách quan theo kiểu Bạch truật kiêm thái bình. lý luận về các nhân vật và sự kiện.

Trong văn học Việt Nam, truyện văn xuôi chữ Hán cũng thuộc loại văn tự sự có truyền kỳ của Trung Quốc, nhưng do thiếu cơ sở để tự sự phổ biến như “thuyết thư”, các “thuyết” của Trung Quốc bởi vậy, các chương tiểu thuyết như hoang đường. Lê nhất thống chí chưa đi xa hơn quá trình của lịch sử. Truyện thơ của du mục, bằng cách kể chuyện theo lối thơ, đã tạo tiền đề cho sự thay đổi mô hình tự sự. thơ nói chung không hợp với lối viết mèo trắng, kể chuyện nhiều. nó cần sự gợi mở và biểu hiện chủ quan của chủ thể người kể chuyện. Nếu như trong truyện song tinh của nguyễn huân hao chưa rõ nét mới lạ của mô thức trần thuật thì trong truyện hoa tiên của nguyễn huyễn và nguyễn thiển lại có nét mới lạ rất rõ ràng.

mở đầu bằng cách miêu tả hiện trường, lời kể qua điểm nhìn của nhân vật và hơn hết là sự xuất hiện của ngôn ngữ nửa trực tiếp, độc thoại nội tâm. nhưng khi nói đến câu chuyện của kiều, một mô hình tường thuật mới đã xuất hiện.

mô hình tường thuật chủ quan ngôi thứ ba cũng có nhiều dạng. khi nhà văn biết cách giới hạn tầm nhìn vô hạn của “người kể chuyện toàn năng” vào điểm nhìn của nhân vật, tức là anh ta đã tạo ra một trường chủ quan cho lời trần thuật. ví dụ g. Flaubert trong tiểu thuyết Ba Bovari đã giới hạn tầm nhìn của người kể trong tầm nhìn của hai nhân vật chính, cặp vợ chồng. nhà văn như tôi Proust và H. james hạn chế tường thuật phản ứng của nhân vật đối với sự kiện, bản thân sự kiện không còn là điều quan trọng nhất trong tiểu thuyết.

trong truyện kiều, dưới dạng truyện thơ, thông thường nhà thơ không thể kể dưới dạng “bạch miêu” (gỗ tự sự), mặc dù trong truyện kiều nguyên du cũng có những đoạn trần thuật theo kiểu rất con mèo trắng tôi yêu thần. ví dụ, cảnh xuất hiện của người bất tử:

một từ ngắn để nói

phút tiếp theo, gió thổi cờ

nhanh lên và rung cây

dường như có một chút mùi bên trong

đề phòng cơn gió sau

dấu giày từng bước được in rõ ràng

mọi người có vẻ ngạc nhiên.

cảnh đầu tiên của vụ tự tử trên lầu xanh:

sự bất công nổ ra xa và gần

Tham khảo: Tình yêu quê hương đất nước qua 1 số tác phẩm văn học

nhà chật như nêm

chìm vào giấc ngủ

<3

miêu tả chính xác các chi tiết, sử dụng bút pháp mộc mạc, gợi lên tinh thần truyền tải chính là phẩm chất của những đường nét miêu tả trong truyện kiều.

nhưng khi kể chuyện, nói chung, các nhà thơ ít khi sử dụng mèo trắng, mà thay vào đó, họ chủ yếu kể bằng những nét bóng:

đầu trâu mặt ngựa lao như sôi

già, một ông già, một đứa trẻ

một sợi dây vô hình gắn kết hai tình cảm

ngôi nhà đầy ruồi xanh

khung cửi bị sập, bó vải vỡ tan tành

mash, hy sinh riêng tư

trong sạch và đầy lòng tham.

mọi thứ đi vào truyện cổ tích đều mang bóng dáng của nhận thức chủ quan trong mối quan hệ của sự vật. cách gọi tên sự vật, ở đây là phép ẩn dụ, hoán dụ. khi vào đình là “lan đình”, “lai đình”, “vàng đình”, khi nói đến bình phong là “đào phòng”, “xuân phòng”, “phòng thêu”, “văn chương”. buồng “,” buồng khue “,” cabin “; khi nói đến cửa sổ thì có nghĩa là “khúc đào”, “khúc hồ”, “khúc mai”, “khúc sa”, “khúc khúc”, “khúc thu”, “khúc trăng” … khi nói đến hiên, “sân đào”, “sân hoa”, “sân hè”, “sân lai”, “sân mai”, “sân mây”, “bãi ngọc”, “bãi ngô”, “bãi thu”; khi tường thành thì có “tường hoa”, “tường gấm”… đó là cách dùng từ mang nét trang sức nhằm nhấn mạnh tính chất trang trí của từ ngữ trong thơ tang (9), đó là thích hợp vì nhịp điệu kép của bài thơ Alexandros. do đó, nguyễn du không vẽ phong cảnh theo phong cách bạch vân.

Nói đến sự việc, Nguyễn Du không cần kể lại chi tiết những sự việc cụ thể, mà xem sự việc, sự việc như một cái cớ để tái hiện cảm xúc của nhân vật. Giống như đoạn Kim Trọng bắt được cái kim, người nghệ sĩ tài hoa đã miêu tả hoàn cảnh mình nhặt được:

“Hôm đó, do xui xẻo, kim trong đi chơi trên núi giả, chỉ thấy ánh hồng vụt qua, bóng người đã khuất, chim trên cành cây hót vang, khiến người ta kinh. vui thích. kim vuốt lòng mê sảng, không muốn gì nữa, đột nhiên nhìn thấy trên cành cao nhất của cây đào treo ở một góc một vật, ánh sáng vàng rực rỡ, màu ngọc bích chói mắt. kim trong định nhìn kỹ, lòng như chạm vào vàng, giật mình nghĩ: “nếu không phải từ trong miếu thì làm sao có chuyện này?” Người đó hạ thanh tre xuống, nhìn kỹ, quả nhiên là chạm vàng. được Dát bằng ngọc xanh, được chế tác rất tinh xảo, chàng tự nghĩ: “Vàng dát ngọc quả là bảo bối của mỹ nhân phải không? Tôi không biết tại sao mình lại mắc kẹt ở đây, chắc chắn sẽ có người tới tìm. nay may mắn rơi vào tay ta, ắt là cơ hội, ta hãy giữ lấy, xem tình hình thế nào “. ấy vậy mà chàng đứng dưới núi giả mà vui mừng khôn xiết” (10). Đây cũng là một điểm quan điểm của nhân vật, nhìn thấy nó, nhìn kỹ, nhìn kỹ, rồi suy nghĩ, rồi phán đoán, thế thì hạnh phúc … nhưng đó là những điều của nhân vật, và quan điểm là của người kể chuyện toàn trí, vì chỉ mình anh ta mới biết ai nghĩ gì và trình bày toàn bộ quá trình nhận thức của nhân vật từ xa đến gần, như anh biết và suy đoán. Nguyễn Du nói theo một cách khác. đã cưa mà không quan tâm đến sự vật hoặc đồ vật:

Nó nên cách xa bức tường vào một ngày nắng.

Hình như có một nhân vật ngộ nghĩnh dưới gốc cây đào,

XEM THÊM:  Vẻ đẹp của Thuý Vân và Thuý Kiều

buông tay, nhặt áo lên, nhanh lên,

mùi còn thơm, người vắng.

đi theo bức tường thổ cẩm xung quanh,

Trên cây đào, anh nhìn thấy một cành hoa thủy tiên vàng

Hãy giơ tay của bạn và mang nó về nhà…

Các từ “dường như có”, “theo sau”, “hơi” cho thấy nguyễn du rất chú ý đến cảm xúc của nhân vật. ngay khi thấy “hình như có bóng người” (một nhận định chủ quan của nhân vật), anh liền “buông tay, cởi áo”, nhưng không có, chỉ có “mùi còn thơm ”(cũng là cảm giác của người) vật) nguyễn du chỉ chú ý đến cảm giác, hành động, thất vọng của nhân vật. Nguyễn Du đã khắc họa nỗi nhớ mong và thất vọng của Kim Trọng dưới góc nhìn của chính mình. Một Nguyễn Du không màng đến phẩm chất vàng son, ngọc nhã mà chú ý đến mùi hương rất gợi cảm bởi mùi hương ấy gắn liền với vẻ đẹp của người phụ nữ. đã thay đổi chi tiết cho gợi cảm.

Chuyện vì sao kim trong phải về nhà làm đám tang thì không cần kể nhiều, chuyện người bán lụa vu oan cho anh như thế nào thì không cần biết, chuyện chung quy anh đã lo liệu như thế nào. anh ấy làm. họ không cần phải nói với bạn. Nguyễn du chỉ chắt lọc những sự kiện làm cái cớ để đi sâu vào trạng thái tinh thần và phản ứng tâm lý của nhân vật. Tất nhiên, mô hình tự sự của bài thơ đã làm mất đi sự phong phú của các chi tiết đời thường. Nguyễn du chưa có một hình thức độc thoại nội tâm và một dòng ý thức phát triển tốt để phản ánh hết mớ văn xuôi lộn xộn của cuộc đời. nhưng lúc bấy giờ trên thế giới hình thức đó chưa xuất hiện nhiều. Nguyễn du đã thay đổi điểm nhìn trần thuật. trong truyện kim văn kiều, điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri rất bộc lộ, khiến người đọc luôn thấy rõ vai trò của người kể chuyện. Đây là một đặc điểm văn phong điển hình của tiểu thuyết Trung Quốc, trong đó lời kể của người kể chuyện được cho là đứng trước khán giả nghe câu chuyện và tương tác với họ. ví dụ, hành động ii, tác giả viết:

“kể câu chuyện rằng chị Thuý Kiều thấy chị gái đi ngủ và tự nghĩ rằng…”. thì ở một đoạn khác, anh viết: “Bỏ truyện đam mỹ đi nếu không nhắc nữa. hãy nói với sự tôn trọng… ”. đó là công thức trần thuật truyền thống của tiểu thuyết chương hồi. khác với truyền thống đó, nguyễn du mở và kết đoạn văn theo điểm nhìn của nhân vật trong hoàn cảnh viết để đọc. Chúng tôi nhận thấy rằng trong khi tất cả các tiểu thuyết Trung Quốc được kể theo phong cách truyền khẩu, tất cả các câu chuyện du mục, bao gồm cả những câu chuyện dân gian phổ biến, được kể theo phong cách đọc để xem! rõ ràng là hai truyền thống khác nhau. tương ứng với sự việc trên, nguyễn du viết phần mở đầu:

quay trở lại gót hoa,

mặt trời che chở cho núi rừng, tiếng chiêng thu trống

Gương Nga soi sông,

vàng gieo nước trong sân.

thu hải đường là loại cây đứng đầu của dong lan,

giọt sương gieo nhiều cành xuân.

nhìn thấy hình bóng Nga một mình,

những con phố đông đúc gần xa …

và phần kết, không để lại dấu vết của người kể chuyện:

những bông hoa di chuyển ra xa,

biết số phận của mình, biết số phận của mình.

điểm kỳ dị của lớp hỗn loạn,

nghĩ về điều đó, khóc về điều đó …

nguyễn du mở đoạn tiếp theo, tuy có ngữ điệu của người kể chuyện, nhưng giống như cảm xúc của người đọc hơn là người chủ động tổ chức câu chuyện:

nói rằng đó là một giống chó nhạy cảm,

Ai sẽ kết thúc chuỗi!

anh chàng kim hỗ trợ thẻ …

và kết thúc: hồ đã đóng một nửa,

tường đầy mỗi ngày

một mảnh đúc bằng đồng,

Thật tuyệt khi thấy bóng hồng ra vào …

Mỗi phần mở đầu và kết thúc nguyen du không đưa người đọc đến những manh mối của sự việc mà đưa đến một trạng thái tâm hồn, bằng cách đưa ra điểm nhìn nội tâm của nhân vật, từ đó cảm nhận sự việc qua lăng kính tâm hồn nhân vật. . ký tự. Nguyễn du đã biết cách giới hạn điểm nhìn trần thuật của mình trong góc nhìn của nhân vật.

ví dụ như mảnh thủy kiều bán một mình. kim van kieu kể chuyện:

“mẫu thân đi một lúc sau liền dẫn theo vài người trở lại, trong đó có một người ăn mặc lộng lẫy tiến lên hành lễ, nhìn kỹ nữ hàm đang nắm tay, nâng cao hai chân, vuốt ve bộ ngực, bóp. vai của cô ấy, thực sự, một cô gái hoàn chỉnh. người hỏi có biết mánh khóe gì không, bà mẹ nói: “thơ ca phú, món nào cũng ngon, chim trong hồ càng tuyệt”. anh nói “em có cái quạt sọc vàng, cho em xin một bài”, rồi anh đưa cho mẹ, và mẹ tặng cho thuy kiều. thuy kieu cho biet: “xin ban cho cac cau tra loi va may man”. nói: “Hãy lấy tựa là mùa xuân và ngày để nghe tiếng chim bồ câu và vần dương. Kiêu, không cần suy nghĩ, vẫy tay đọc một câu quatrain (…). Khi nào xong, cho tôi biểu diễn. Mẹ sẽ cho Ông nói: “bạn viết hay lắm. Ho chi cũng xin thầy cho một bài. Lúc đó, thủy kiều chỉ muốn cứu cha, không ngại vụng về nên đã chơi bài” hồng nhan oán hận “do cô ấy, âm thanh đáng thương và đáng thương, như tiếng hạc kêu mùa thu, tiếng vượn hót trên núi sa mạc, không ai nghe thấy. Tôi chưa bao giờ nghe nói về điều đó. Bây giờ bạn đang hỏi bao nhiêu tiền? ” Bà mẹ chồng nói: “Muốn cứu cha cũng không thể đủ 500 lượng”. anh ta nói: “vậy thì hỏi nhiều quá, 300 lượng”, thủy kiều nói: “bán thân lấy tiền mà không xin được việc sao lại bán?”. Anh ấy nói, “Một giờ là hơn: 400 lượng, được không? thuy kiều nói “không đủ 500 lượng!” tăng 50 lượng và giá giảm. hỏi ai đóng vai, Thủy kiều nói “cần bố tôi đảm nhận …”.

Tham khảo: Nhân vật hoạn thư trong truyện kiều

Tác giả đã thuật lại toàn bộ một vụ mua bán người dưới dạng hàng hóa từ đầu đến cuối. Đối với Nguyễn Du, đó trước hết là nỗi tủi nhục của con người, được ông miêu tả qua cảm nhận của nhân vật. đầu tiên, anh ta tạo cảnh nhận dạng cho mã sinh viên, sau đó là cảnh bán thân làm nhục:

camera bị mối mọt thúc giục cô ấy nhanh chóng ra ngoài

Tôi còn tức giận hơn khi ở nhà,

kệ hoa là một vài hàng hoa.

tránh xa gió,

đừng ngại ngùng nữa, hãy làm ra vẻ ngốc nghếch.

mối kéo tóc lại, bắt tay,

<3

Những dòng chữ được in ở đây đều là tâm tư, tình cảm của nhân vật. Nguyễn du kể về phản ứng tâm lý chứ không phải về sự việc.

Để mô tả cảm xúc bên trong của nhân vật, tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc thường có nhân vật viết thơ và bài hát. những ca sĩ tài hoa cũng thường để các nhân vật làm thơ như một phương tiện che đậy nỗi đau buồn của họ. chẳng hạn, ông già phải tiếp khách ở màn 11:

“Thủy kiều thân bại danh liệt, nhan sắc cùng tài năng đứng đầu một thời. vua tấn công tước yêu cầu được nhìn thấy một lần là vinh dự. tiếng đàn hồ cầm và tiếng thơ vang xa gần xa, ca ngợi khả năng sáng tác giai điệu mới, đàn hạc điêu luyện của ma kiều, lay động lòng người, cân bằng tâm hồn, nụ cười đáng giá ngàn vàng. thủy kiều thường nghĩ: mình xuất thân là người như thế nào, họ có hứa hẹn gì với mình mà nay đã sa vào nơi sương gió, biết ngày tháng năm nào có thể mở mang tầm mắt. nỗi uất hận với bản thân quá sâu sắc nên mới có bài hát “kêu trời” để bày tỏ sự bất bình. tiếp theo là chép một bài thơ 48 dòng. Bài hát cũng thể hiện phong cách tự sự của tác giả Trung Quốc: một, bài hát chỉ kể những điều mọi người trong lầu xanh đã biết, hai là chủ đề của bài hát không chỉ là thủy chung mà là sự khái quát chung về cuộc sống. của một cô gái điếm, đó là sự phân tán các điểm nhìn, khiến nhân vật không còn là một khối thống nhất. bài hát có giá trị hiện thực đáng kể, nhưng không thể nói nhiều về nỗi đau tình cảm của một người đồng đạo. Truyền thống thơ văn tự sự xen kẽ của Trung Quốc rất mạnh mẽ. Truyện cổ Việt Nam cho đến tân phả cũng không ai vượt qua được … nguyễn du biết cách phá cách với lối kể chuyện đan xen thơ văn để tạo nên những mạch tình nhất quán theo dòng chảy của văn bản.

mặt đất xanh mới đầy cây đào,

giá ngọc càng cao thì phẩm giá con người càng cao.

rất nhiều bướm bay lượn,

tháng say sưa, thâu đêm suốt sáng!

én lá, gió, cành,

<3

khi tỉnh táo, khi kết thúc thời gian xem,

giật mình, tôi cảm thấy có lỗi với bản thân.

khi ngôi sao gấm vóc

tại sao chúng lại nằm rải rác như những bông hoa giữa đường?

mặt của ngôi sao dày và có gió.

tại sao những con bướm quá nhàm chán?

mặc mây mưa,

ai biết mùa xuân là gì?

gió giống như một bông hoa ở bên cạnh bạn,

một nửa bức màn tuyết khép lại, mặt trăng tròn ở tất cả các phía.

cảnh nào không mang nỗi buồn.

Những người buồn có bao giờ vui không?

yêu cầu một đoạn thơ,

uốn cong trên mặt trăng, di chuyển dưới hoa.

hãy hạnh phúc vì bạn sẽ không bị như vậy,

ai tốt như vậy với ai?

gió hờ hững, mưa tre ngày mai,

<3

ở đây nỗi đau, nỗi tủi nhục về tinh thần, nỗi cô đơn không ai sẻ chia mới là điều quan trọng nhất, không giống như nội dung bài hát “khóc với trời” của tâm hồn tài hoa.

Rõ ràng, tuy vẫn duy trì cấp độ trần thuật ngôi thứ ba bên ngoài, nhưng hầu hết các tình tiết quan trọng của nguyễn du đã chuyển điểm nhìn trần thuật về phía nhân vật, trước hết là nhân vật ngoại, kim trong, sau đó là các nhân vật khác như mã sinh. , tu ba, thái giám, tu hai, ho tấn. chúng tôi đã thể hiện qua những đoạn mà kiều gặp kim trong, kiều đưa kim về ải, yêu đưa bùa, yêu lên lầu ngăn cản, kiều đưa chàng về nhà, kiều trả ơn báo thù, v.v. . điểm nhìn của kiều luôn được lấy làm điểm tựa để kể chuyện, miêu tả. Chúng tôi cũng cho thấy rằng nguyễn du không miêu tả cảnh như đã biết trước, mà nó dần hiện ra trong con mắt và cảm xúc của nhân vật (11). Dưới đây chúng tôi cũng sẽ trình bày về vai trò của độc thoại nội tâm trong truyện kiều, chất thơ trong truyện kiều. tất cả đều thể hiện tính chủ quan cao độ trong mô hình trần thuật của truyện kiều, khiến tác phẩm có được chất lượng mới so với truyện của tài tử thanh tâm.

một điểm nữa là nguyễn du cũng bình luận thẳng về truyện kiều, nhưng là cách bình luận khác với tiểu thuyết trung quốc. ở Trung Quốc, mọi lời bình luận đều hàm súc, tỉnh táo, sắc sảo và mang đậm màu sắc của đạo lý quýt. trong truyện của kiều, lời bình chứa đựng nhiều cảm xúc, nó gần với sự than thở, lên án, than thở của những người cùng cảnh ngộ. lời nhận xét đó hài hoà với chất trữ tình của tác phẩm. đây cũng là một biểu hiện quốc gia?

mô hình tự sự cho thấy rằng trong nghệ thuật tự sự, mặc dù sự kiện quan trọng nhưng không có tính chất quyết định, cái quyết định là mô hình và phương thức tường thuật, tức là cách thức mà sự việc được nhận thức và thể hiện. chúng ta có thể kết luận rằng tuy Nguyễn Du mượn cốt truyện của thanh tam tài trong truyện kim văn kiều nhưng đã thay đổi mô hình trần thuật của thanh tam tài, từ mô hình trần thuật theo hướng câu khách, ngôi thứ ba, thiên về bình luận và đánh giá. lý trí, sang mô hình trần thuật ở ngôi thứ ba với quan điểm cảm nhận cá nhân của nhân vật, kèm theo những nhận xét, đánh giá có lợi cho cảm xúc của người kể. một mô hình như vậy là chưa từng có trong truyền thống và tiểu thuyết Trung Quốc. Đó là một sự sáng tạo bất ngờ trên cơ sở tổng hợp các truyền thống tự sự và trữ tình của dân tộc như ngâm thơ, trữ tình, và truyền thống thơ trữ tình của Trung Quốc như thơ luật tang, thơ tự sự như thơ lục bát. của mô hình tự sự đã làm cho những câu chuyện về kiều đạt đến một chất lượng mới lạ chưa từng có. chủ đề này sẽ được làm sáng tỏ hơn trong các chủ đề về thái độ đồng cảm, thơ ca và độc thoại nội tâm trong các phần sau.

(1) m.bakhtin: những vấn đề thơ doxtoepxki, nxb. giáo dục, h., 1993, tr.34.

(2) Wellec và worren. lý thuyết văn học. xã luận tiến bộ, m., 1978, tr.204.

(3) xem các tác phẩm tự truyện của lubomir dolezel, g. gentte, m. kiện, t. todorop, milena dolezela.

(4) mái nhẵn. sự biến đổi của mô hình trần thuật trong tiểu thuyết Trung Quốc. Thượng Hải, 1988; milena dv tường thuật mô hình của tiểu thuyết muộn. trong các cuốn sách từ truyền thống đến hiện đại. nxb. đại học Bắc Kinh, 1991.

(5) Trích dẫn tiểu thuyết Trung Quốc ở đây chỉ mang tính chất tương đối, vì có nhiều văn bản khác nhau, tình trạng bản dịch tiếng Việt thường có thêm bớt sai sót. thêm dấu ngoặc kép “…” cho đoạn văn trước không có dấu đó, vẫn còn thiếu sót – t.Đ.s.

(6) bản dịch của nhà xuất bản Tam Thai Cổ Cưu (huong can), trích trong ngoặc kép.

(7) tấm lòng trong sáng của tài năng. lịch sử kim văn kiều, xã luận. hoa ha, 1995. tr. 188.

(8) xem: một số đề tài thơ lục bát giữa văn học Việt Nam, h, 1999, tr. 403.

(9) xem cao hứng, tổ tiên mai: cái duyên của thơ tang. tldd, trang 57-58.

(10) thanh tam tài sắc, kim văn kiều truyện, tldd, tr.161.

(11) xem bài viết về nghệ thuật của con người. trong chương trước.

[u1] ngữ pháp

Tham khảo: Truyện kiều có bao nhiêu nhân vật

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Về hình thức tự sự của Truyện Kiều | Trần Đình Sử. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Xem thêm:

  • Auto hack game zing me cong dong bang
  • Dark soy sauce là gì
  • Phân tích bài thơ bếp lửa của nhà thơ bằng việt
  • Sản đối với các tác phẩm âm nhạc là
  • Những câu nói bất hủ của dân phượt chính hiệu, Stt Phượt